Trang chủ Giới thiệu chung

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHÀNH
(Ngày đăng :03/11/2015 3:49:02 CH)

Ngay từ những ngày đầu, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã đặc biệt quan tâm đến công tác lao động, người có công và xã hội. Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tuyên cáo “Về việc thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, trong 13 Bộ đầu tiên của Chính phủ lâm thời lúc này đã có những Bộ phụ trách công tác Lao động - Thương binh và xã hội. Cùng với quá trình vận động và phát triển của sự nghiệp cách mạng tháng 2 năm 1987, kế thừa chức năng, nhiệm vụ của các Bộ và cơ quan tiền thân trước đó, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội được thành lập.

Là một lĩnh vực rộng lớn của đời sống xã hội nước ta, công tác lao động, người có công và xã hội mang những đặc trưng cơ bản: tổng hợp chính trị - kinh tế - xã hội- quốc phòng - an ninh, trực tiếp phục vụ hàng chục triệu người lao động, hàng triệu người và gia đình người có công với cách mạng, hàng triệu người thuộc các đối tượng xã hội, khó khăn, yếu thế. Quá trình vận động và phát triển của công tác lao động, người có công và xã hội trong từng thời kỳ cách mạng trực tiếp tác động đến sự ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế, góp phần đắc lực thực hiện cương lĩnh, chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, cả nước tập trung thực hiện nhiệm vụ “chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm". Ngày 02/11/1945, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động đã ra quyết định thành lập Hội cứu đói, nhằm tìm kiếm nguồn lương thực, thực phẩm để cứu giúp những người nghèo. Tiếp theo, ngày 28/11/1945, Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 67 cho thiết lập " Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế" của Chính phủ nhằm thực hiện công cuộc cứu tế và tiếp tế trên toàn quốc.

Bằng những chủ trương biện pháp đa dạng, tích cực Đảng và chính quyền cách mạng các cấp đã dộng viên được đông đảo nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia vào các phong trào đẩy lùi giặc đói, tạo điều kiện cho việc xây dựng và giữ vững chính quyền; phát triển nạn mù chữ trong đông đảo quần chúng nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ta vượt qua được những khó khăn, thử thách nghiêm trọng và chuyển nhanh đất nước vào cuộc chiến tranh lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954): Các chính sách lao động tập trung huy động sức dân, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Phong trào thi đua ái quốc đã huy động hàng vạn công nhân, trí thức rời thành phố về các vùng tự do, khu căn cứ cách mạng để tham gia kháng chiến. Cả nước đã huy động trên 1,1 triệu lượt người và hàng trăm triệu ngày công lao động cùng với phương tiện vận chuyển thô sơ phục vụ các chiến dịch, mà đỉnh cao là chiến dịch Điên Biên phủ lịch sử.                  

Trong lĩnh vực thương binh, liệt sỹ, mặc dù thời kỳ này cách mạng nước ta gặp muôn vàn khó khăn nhưng Đảng, Chính phủ đã giành sự quan tâm đặc biệt: Tháng 2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy định chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sỹ. Tháng 7/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào " Đón thương binh về làng". Từ đó, việc đón thương binh về địa phương được xúc tiến mạnh mẽ. Nhờ các chính sách về ưu tiên chia cấp ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn dân công nghĩa vụ cùng với sự thương yêu đùm bọc của nhân dân, nhìn chung cuộc sống của thương binh về địa phương được ổn định.

Bước sang giai đoạn hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội(1955-1964), Bộ Lao động đã tham mưu cho Đảng và Chính phủ ban hành hệ thống chính sách lao động kịp thời phục vụ cho công cuộc khôi phục và kiến thiết đất nước; các chính sách liên quan đến điều chỉnh quan hệ lao động làm công ăn lương trong các xí nghiệp mới tiếp quản; các chính sách đảm bảo đời sống và điều kiện lao động cho công nhân, viên chức Nhà nước, Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm, bảo hộ lao động được ban hành; các chính sách về huy động, phân bổ và sử dụng lao động đã ban hành nhằm phân công lại lao động xã hội phục vụ cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong các Kế hoạch 3 năm và 5 năm. Đặc biệt, năm 1961, Nhà nước đã đề ra chủ trương vận động đồng bào miền xuôi đi xây dựng và phát triển kinh tế văn hoá xã hội miền núi. Đây là chủ trương lớn đã được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 (khoá III) tháng 7/1961 và được thực hiện có hiệu quả cho đến tận ngày hôm nay.

Trong lĩnh vực thương binh, liệt sỹ, nhiệm vụ trọng tâm là giải quyết những tồn đọng của thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sửa đổi bổ sung chính sách cho phù hợp với nhiệm vụ khôi phục, phát triển sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam.

Hàng loạt chính sách đối với thương binh, liệt sỹ thời kỳ chống Pháp được sửa đổi, bổ sung như: chế độ phụ cấp thương tật 6 hạng thay thế chế độ lương hưu thương tật; Điều lệ ưu đãi thương binh, bệnh binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong, Điều lệ ưu đãi gia đình liệt sỹ; chế độ tiền tuất cho gia đình liệt sỹ dân chính đảng; quy định việc cất, bốc, quy tập mộ liệt sỹ; xây dựng nghĩa trang liệt sỹ; chế độ bệnh binh cho quân nhân tình nguyện, dân quân tự vệ.

Có thể nói, trong thời kỳ này chính sách thương binh, liệt sỹ được bổ sung, hoàn thiện một cách căn bản, góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách nhất đối với thương binh, gia đình liệt sỹ.

Trong giai đoạn 1965-1975, cả nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nhiệm vụ trọng tâm của Ngành Lao động là nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách lao động cho phù hợp với điều kiện thời chiến và tổ chức triển khai có hiệu quả các chính sách đó nhằm góp phần huy động tối đa sức người, sức của thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách   mạng.
             Năm 1967, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về phân công lại lao động xã hội và Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết về tăng cường quản lý lao động xã hội, bảo đảm sản xuất tốt và chiến đấu thắng lợi. Quán triệt quan điểm đó, hàng lọat chính sách lao động đã được ban hành như: Chính sách phân phối, chính sách tiền lương; chính sách lao động nữ; hướng dẫn thực hiện các biện pháp về tổ chức lao động khoa học, xây dựng định mức lao động, các hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm; quản lý lao động trong nông, lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã; chính sách về đào tạo công nhân kỹ thuật…

Trong thời kỳ này, hàng loạt chính sách thương binh, liệt sỹ được sửa đổi, bổ sung như: Nâng mức trợ cấp đặc biệt cho các đối tượng bố, mẹ có con độc nhất là liệt sỹ, có nhiều con là liệt sỹ, con liệt sỹ mồ côi, nâng mức sinh hoạt phí nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh nặng, nâng mức trợ cấp phục vụ cho thương, bệnh binh nặng, tổ chức khám bệnh và định mức phí y tế cho thương ninh, quy định việc cung cấp phương tiện hỗ trợ, chế độ khám, chữa bệnh, miễn giảm tiều tàu xe đi lại… Phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ phát triển rộng khắp với các hoạt động phong phú.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các chính sách, chế độ đối với thương binh liệt sỹ chưa có điều kiện ban hành ở miền Nam. Mặc dù vậy, các địa phương, các đơn vị miền Nam đã rất cố gắng giải quyết những vấn đề cấp bách như: chôn cất, giữ gìn hài cốt, bảo quản phần mộ liệt sỹ, cấp cứu, điều trị, an dưỡng. Chính sách thương binh liệt sỹ giai đoạn này phát triển tương đối toàn diện đã góp phần làm tốt công tác hậu phương quân đội, động viên, khích lệ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân hăng hái trong chiến đấu, hết lòng chi viện cho miền Nam đánh giặc Mỹ , giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bước sang gia đoạn đất nước thống nhất, cả nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, lĩnh vực Lao động - Thương binh và xã hội có các bước phát triển vượt bậc cả về phạm vi, lượng và chất.

   Giai đoạn 1976 - 1985: Đất nước thống nhất, Ngành Lao động đã tập trung tham mưu về chính sách, giải pháp sắp xếp việc làm cho người lao động thất nghiệp ở các đô thị miền Nam, giúp nhiều người chuyển về quê cũ làm ăn; ổn định việc làm, đời sống cho cán bộ tập kết từ miền Bắc trở về; sắp xếp việc làm cho bộ đội, thanh niên xung phong xuất ngũ; động viên lực lượng lao động cả nước tham gia khôi phục cơ sở hạ tầng; ban hành và thực hiện chính sách điều động lao động và dân cư vùng đồng bằng sông Hồng đi khai hoang, xây dựng các vùng kinh tế mới; đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng, nâng cao tay nghề và làm việc có thời hạn tại các nước xã hội chủ nghĩa. Một vấn đề rất quan trọng trong thời kỳ này là đã thực hiện các cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp quốc doanh, ổn định đời sống của người hưởng lương.

Trong lĩnh vực thương binh - xã hội, tập trung tổ chức xác nhận thương binh, liệt sỹ, thống nhất chính sách, chế độ giữa hai miền; cất bốc, quy tập mộ xây dựng nghĩa trang liệt sỹ. Cùng với việc cải cách chế độ tiền lương, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định bổ sung, sửa đổi một số chế độ về thương binh, xã hội; thống nhất chế độ giữa các thời kỳ.

Giai đoạn 1986 - 2000: Xuất pháp từ thực tiễn công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện, hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách về lao động - thương binh và xã hội được xây dựng tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh:

+ Trong lĩnh vực lao động: Bộ luật Lao động và các Pháp lệnh, Nghị định đã thiết lập được các khung pháp lý cho sự phát triển của các quan hệ và điều chỉnh các quan hệ lao động. Hàng loạt các chế độ về giải quyết việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, phát triển nguồn nhân lực, triệt để phát huy nội sức lao động của toàn xã hội, cải cách chính sách tiền lương, đổi mới chê độ bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, thanh tra lao động đã được ban hành và đi vào cuộc sống. Cùng với nhịp tăng trưởng kinh tế, hàng năm đã tạo được việc làm tăng thêm cho 1,2 – 1,3 triệu lao động.

+ Trong lĩnh vực người có công: Hai Pháp lệnh (Ưu đãi người có công với cách mạng và phong tặng danh hiệu vinh dự nhà nước bà mẹ việt nam anh hùng) đã kế thừa và phát triển các chính sách ưu đãi thương binh, gia đình liệt sỹ trong mấy chục năm trước, trở thành một hệ thông pháp lý tương đối hoàn chỉnh để thực hiện chính sách ưu đãi người có công, giải quyết tồn đọng về chính sách sau chiến tranh. Tới cuối năm 1999, có 6 triệu đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi của đảng, nhà nước. Đồng thời các phong trào nghĩa tình, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ người có công được mở rộng và phát triển mạnh mẽ, phần lớn đối tượng chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi cư trú.

+ Trong lĩnh vực xã hội: các Pháp lệnh, Nghị định đã trở thành công cụ quản lý nhà nước về người khuyết tật, người cao tuổi, xóa đói giảm nghèo, giảm chênh lệch giàu - nghèo, trẻ em đặc biệt khó khăn, cứu trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội... Đặc biệt những thành tựu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được những thành công quan trọng được nhân dân và bạn bè Quốc tế công nhận

Giai đoạn 2001-2005: Ngành Lao động- Thương binh và xã hội đã trình và được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua một Luật và hai Pháp lệnh: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động; Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công; Pháp lệnh phòng chống mại dâm. Cùng với hệ thống văn bản pháp luật, Ngành đã xây dựng các chiến lược: Việc làm, Xuất khẩu lao động, Dạy nghề, Xóa đói giảm nghèo, gắn với các chiến lược này là các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dạy nghề, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, các vấn các đè án lớn như: cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội và chế độ ưu đãi đối với người có công, quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề, các cơ sở xã hội đã tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để các ngành và địa phương chủ động, sáng tạo trong huy động các nguồn lực, trong thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về lao động - thương binh và xã hội. Trong 5 năm, nền kinh tế đã tạo việc làm mới cho 7,5 triệu người, dạy nghề được phục hồi và phát triển; chính sách tiền lương, tiền công được đổi mới; thị trường lao động hình thành và phát triển.

Trong lĩnh vực người có công, chính sách ưu đãi đã tập trung vào đối tượng có cống hiến trong hai cuộc kháng chiến gồm 13 diện đối tượng với trên 8 triệu người đã và đang hướng chế độ ưu đãi xã hội. Cùng với chế độ trợ cấp là các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước trong giáo dục, đào tạo, miễn giảm thuế, ưu tiên đất sảm xuất, cải thiện đất ở, nhà ở, chăm sóc sức khoẻ; đồng thời đẩy mạnh phòng trào toàn dân chăm sóc người có công. Đến cuối năm 2005, đã cơ bản giải quyết các hồ sơ tồn đọng xác nhận thương binh, liệt sỹ và người có công; 100% bà mẹ Việt Nam anh hình còn sống được phụng dưỡng; 85% hộ chính sách có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của địa phương.

Trong lĩnh vực xã hội: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện theo hướng gắn với phát triển bền vững và thực hiện công bằng xã hội. tạo của hội, tạo cơ hội cho mọi người, nhất là người nghèo, nhóm yếu thế có cơ hội phát triển, tự minh vươn lên hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng.

Từ năm 2005 đến nay: Ngành đã có những bước đột phá trong xây dựng văn bản pháp luật, đã trình Quốc hội thông qua: Luật sửa đổi, bổ sung điều 73 Bộ luật Lao động (2007). Năm 2012 đã thông qua Bộ luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động; Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội thông qua năm 2006 và được sửa đổi 2014; Luật Dạy nghề (2006), Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014); Luật Việc  làm(2013); Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (2006); Luật An toàn vệ sinh lao dộng (2015); Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012. Lụât bình đẳng giới(2006); Luật người khuyết tật(2010); Luật Trẻ em (2016). Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật lĩnh vực lao động và xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với xu thế hội nhập và các cam kết khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (năm 2007). Cũng vào năm 2007, Quốc hội, Chính phủ đã giao cho Ngành nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Như vậy, phạm vi nhiệm vụ của Ngành khá lớn, liên quan đến tâm lý, tình cảm của hàng chục triệu người, cũng như những chính sách bảo đảm an sinh xã hội của cả quốc gia. Với tinh thần đổi mới, sáng tạo, đoàn kết nhất trí, nghành đã nhanh chóng ổn định, tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Quá trình hơn 70 năm xây dựng và phát triển Nghành Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy những vấn đề có tính quy luật, tính nguyên tắc đã được cuộc sống kiểm nghiệm và được tổng kết về mặt khoa học, đó cũng chính là những bài học về phương pháp lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu, lãnh đạo và chỉ đạo hoạt động của nghành.

Thứ nhất, phải quán triệt và cụ thể hóa, thể chế hóa về mặt nhà nước các quan đường lối của đảng thành hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách lao động, người có công và xã hội trong từng giai đoạn cách mạng. ba bộ phận chính sách này là một thể thống nhất, đều xuất phát từ mục tiêu nhằm phát huy, phục vụ con người. tuy mỗi loại chính sách này cụ thể có đối tượng, phương thức và có cấp độ điều chỉnh khác nhau, nhưng giữa chúng có mối quan hệ biện chứng khăng khít.

Trong hoạch định chính sách cần đảm bảo sự hài hòa, đồng thời chọn đúng các khâu đột phá. Đó là, sự cân đối giữa chính sách lao động, người có công và xã hội trong hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội nói chung, sự đột phá là chính sách về việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, chính sách người có công, chính sách xóa đói giảm nghèo.

Thứ hai, để xây dựng chính sách lao động người có công và xã hội, cùng với sự quán triệt và cụ thể hóa chủ trương, chính sách chung của đảng, nhà nước, còn phải rất coi trọng ba căn cứ: điều tra, khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học những vấn đề mới, dự báo những cơ hội và thách thức. Kết hợp ba căn cứ trên thực chất là sự gắn kết giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, lý luận được đúc kết tù tổng kết thực tiễn mà có. Vì vây, phải xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới kinh tế - xã hội nói chung lao động người có công và xã hội nói riêng để thể chế hóa các chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước thành hệ thống pháp luật và cơ chế thực hiện phù hợp.

Thứ ba, trong tổ chức thực hiện chính sách lao động, người có công và xã hội, phải đồng thời giải quyết tốt ba vấn đề:

- Nâng cao vị trí, vai trò trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, trên cơ sở phân cấp ngày càng nhiều cho cơ sở đồng thời gắn liền việc thực hiện cải cách hành chính;

- Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chính quyền với các tổ chức đảng, đoàn thể tổ chức xã hội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị;

- Mở rộng xã hội hóa nhằm khai thác và phát huy mọi nguồn lực xã hội để cùng nhà nước giải quyết các vấn đề về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội nhất là các vấn đề bức xúc về việc làm, giảm nghèo, chăm sóc người có công, hòa nhập xã hội của nhóm yếu thế. Thực hiện rông rái dân chủ cơ sở, tạo sự đồng thuận, giải quyết các vấn đề quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm đối với dân , với tập thể cũng như cá nhân thông qua giải quyết các vấn đề cụ thể vì lợi ích chung và riêng.

Thứ tư, chủ động hội nhập quốc tế, phát triển các quan hệ hợp tác đa phương, song phương và các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự tài trợ về kỹ thuật và tài chính của quốc tế thông qua các chương trình, dự án tăng thêm nguồn lực thực hiện các mục tiêu về lao động, người có công và xã hội.

Thứ năm, phải thường xuyên tăng cường và đổi mới công tác tổ chức - cán bộ của nghành, xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, vừa có bản lĩnh và nhạy cảm chính trị sâu sắc đông thời không ngừng tạo lập các điều kiện tương xứng để phát triển cả về cơ sở vật chất - kỹ thuật, năng lực , nguồn lực, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản cũng có rất nhiều những khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như ngành. Chúng ta cần phải tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết nhất trí, triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp có tầm chiến lược cùng với truyền thống bảy mươi năm vẻ vang và với nỗ lực phấn đấu của mỗi cán bộ, công chức trong toàn nghành, nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu đó.

Để xứng đáng với những thế hệ đi trước, phát huy truyền thống hơn 70 năm của nghành, mỗi cán bộ công chức, người lao động trong Nghành Lao động - Thương binh và xã hội nguyện đem hết sức mình phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, quyết tâm phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

Sở Lao động - TBXH tỉnh Lai Châu: được thành lập từ ngày 01/01/2004 theo Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 01/01/2004 của UBND Lâm thời tỉnh Lai Châu với 14 cán bộ, công chức.

Trong những năm qua, chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của ngành đã có sự thay đổi, lớn mạnh cả về tổ chức và biên chế:

- Từ năm 2004 đến 2007: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có 6 phòng chuyên môn, 5 đơn vị trực thuộc Sở. Ban Giám đốc gồm 3 đồng chí, đồng chí Nguyễn Ngọc Dũng được giao nhiệm vụ Giám đốc Sở, các đồng chí: Thân Văn Minh, Lò Hải Luân được giao nhiệm vụ Phó giám đốc Sở.

- Năm 2008: thực hiện việc sát nhập bộ phận bảo vệ chăm sóc trẻ em về Sở Lao động - TBXH và thực hiện Thông tư số 10/2008/TT-BLĐTBXH ngày 10/7/2008 của Bộ Lao động - TBXH. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở Lao động - TBXH có sự thay đổi, hiện nay Sở Lao động - TBXH có 8 phòng chuyên môn, 6 đơn vị trực thuộc Sở với 160 biên chế. Do yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo Sở cũng thay đổi qua từng giai đoạn, từng thời kỳ:

+ Từ năm 2008 đến 2011: Ban Giám đốc gồm 4 đồng chí: đồng chí Nguyễn Ngọc Dũng được giao nhiệm vụ giám đốc Sở, các phó giám đốc Sở bao gồm: đồng chí Thân Văn Minh, đồng chí Lò Hải Luân, đồng chí Lò Thị Phượng.

+ Từ năm 2011 đến năm 2014: Đồng chí Lê Văn Thăng được giao nhiệm vụ Giám đốc Sở, phó giám đốc Sở gồm các đồng chí: Lò Thị Phượng, Lò Hải Luân, Vương Thế Mẫn, Nùng Văn Nim.

+ Từ năm 2015 đến nay: Đồng chí Lê Văn Thăng được giao nhiệm vụ Giám đốc Sở, Phó giám đốc gồm các đồng chí: Nùng Văn Nim, Trần Đỗ Công và Lương Thị Tuyến.

Với chức năng, nhiệm vụ tham mưu UBND tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trên địa bàn tỉnh. 15 năm qua, Sở Lao động - TBXH luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đã chủ động, tích cực tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo về lĩnh vực công tác của ngành, đặc biệt là Nghị quyết số 05, Nghị quyết số 02 về công tác giảm nghèo, các Chỉ thị, Nghị quyết chuyên đề về công tác dạy nghề, việc làm, cai nghiện ma túy…

Hàng năm thực hiện tốt công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm từng bước nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của người lao động, mỗi năm bình quân giải quyết việc làm mới cho trên 6.500 lao động, đào tạo nghề cho trên 6.000 lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 5%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh các nhiệm kỳ đề ra. Triển khai kịp thời, hiệu quả công tác đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết đầy đủ chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng, thực hiện tốt công tác bảo trợ, cứu trợ xã hội, góp phần giảm bớt khó khăn trong cuộc sống cho các đối tượng yếu thế. Quan tâm, đẩy mạnh chương trình cai nghiện ma túy, phòng chống mại dâm, thực hiện tốt việc xây dựng xã phường lành mạnh không có tệ nạn ma túy, mại dâm, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy, mại dâm, mua bán người; công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, việc thực hiện chính sách lao động, tiền lương, BHXH, An toàn lao động được quan tâm, chú trọng. Với thành tích đạt được của ngành, trong những năm qua Ngành đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân Chương Lao động Hạng Nhì, Chính phủ tặng Cờ thi đua, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, nhiều Bằng khen của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, UBND tỉnh.

Có được những thành tích trên, ngoài sự đoàn kết, nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ công chức, viên chức trong toàn ngành, chúng ta phải ghi nhận những cống hiến, đóng góp của những đồng chí nguyên là lãnh đạo Sở, lãnh đạo các phòng, đơn vị; cán bộ công chức viên chức đã công tác cống hiến cho sự phát triển của ngành như ngày hôm nay. Cảm ơn thế hệ đi trước đã tận tân, dìu dắt cho các thế hệ sau từng bước trưởng thành, thực hiện ngày càng thắng lợi hơn nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho.

15 năm trưởng thành và phát triển, ngành Lao động - TBXH tỉnh Lai Châu đã có sự thay đổi vượt bậc, phát huy những kết quả đạt được, với truyền thống của ngành trong những năm qua, thời gian tới cán bộ công chức, viên chức trong toàn ngành đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao, xứng đáng với truyền thống của ngành mà các thế hệ đi trước đã dày công vun đắp, góp phần đưa Lai Châu trở thành tỉnh phát triển trung bình trong khu vực miền núi phía Bắc mà Đảng bộ tỉnh đã đề ra.

Tin liên quan

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHÀNH (03/11/2015 3:45:44 CH)

DANH BẠ HỘP THƯ CÔNG VỤ(06/10/2014 9:41:55 SA)

90 Người đang Online

SỞ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH XÃ HỘI

Địa chỉ: Tầng 2 nhà E - khu Hành chính - Chính trị tỉnh

ĐT: 023825336 Fax: 023825336

Chịu trách nhiệm chính: Lê Văn Thăng - Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội

Email:

Ghi rõ nguồn www.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này.


...